Trọn bộ câu hỏi và câu trả lời về nhà ở xã hội!

Trọn bộ câu hỏi và câu trả lời về nhà ở xã hội!

Mua nhà ở xã hội là một trong những bài toán về kinh tế hợp lý cho các hộ gia đình có thu nhập thấp, ổn định. Tuy nhiên không phải ai cũng biết đến nhà ở xã hội, chung cư xã hội. Bài viết dưới đây sẽ chia sẻ cho bạn những thông tin phổ biến nhất về nhà ở xã hội, giúp bạn có những thông tin đầy đủ và bổ ích về loại hình nhà ở này.

Nhà ở xã hội, chung cư xã hội là gì?

Nhà ở xã hội là một loại hình nhà ở thuộc sở hữu của cơ quan nhà nước (có thể trung ương hoặc địa phương) hoặc các loại hình nhà được sở hữu và quản lý bởi nhà nước, các tổ chức phi lợi nhuận được xây dựng với mục đích cung cấp nhà ở giá rẻ cho một số đối tượng được ưu tiên trong xã hội như công chức của nhà nước chưa có nhà ở ổn định, người có thu nhập thấp… và được cho thuê hoặc cho ở với giá rẻ so với giá thị trường.

Ở Việt Nam, nhà ở xã hội được định nghĩa là nhà ở do Nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng cho các đối tượng được quy định của Luật Nhà ở thuê hoặc thuê mua (người thuê nhà ở sau một thời gian quy định thì được mua và được công nhận sở hữu đối với nhà ở đó) theo quy chế do Nhà nước quy định. Đây là chính sách có ý nghĩa xã hội lớn.

Chủ sở hữu hoàn toàn có thể cho thuê nhà ở xã hội.

Nhà ở xã hội sở hữu bao nhiêu năm?

Đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam được quy định tại Điều 7 Luật Nhà ở năm 2014 như sau:

“Điều 7. Đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam

  1. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước.
  2. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
  3. Tổ chức, cá nhân nước ngoài quy định tại khoản 1 Điều 159 của Luật này.”

Trong các đối tượng nêu trên, cá nhân nước ngoài chỉ được sở hữu nhà ở theo thỏa thuận trong các giao dịch hợp đồng mua nhà ở nhưng thời hạn sở hữu tối đa không quá 50 năm kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận và có thể được gia hạn thêm theo quy định pháp luật. Nếu cá nhân nước ngoài kết hôn với công dân Việt Nam hoặc kết hôn với nguồi Việt Nam định cư ở nước ngoài thì sẽ chuyển sang hình thức sở hữu nhà ở ổn định, lâu dài như của công dân Việt Nam hay người Việt Nam định cư ở nước ngoài theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 161 Luật Nhà ở:

“Điều 161. Quyền của chủ sở hữu nhà ở là tổ chức, cá nhân nước ngoài

  1. Tổ chức, cá nhân nước ngoài quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 159 của Luật này có các quyền của chủ sở hữu nhà ở như công dân Việt Nam nhưng phải tuân thủ các quy định sau đây:
  2. c) Đối với cá nhân nước ngoài thì được sở hữu nhà ở theo thỏa thuận trong các giao dịch hợp đồng mua bán, thuê mua, tặng cho nhận thừa kế nhà ở nhưng tối đa không quá 50 năm, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận và có thể được gia hạn thêm theo quy định của Chính phủ nếu có nhu cầu; thời hạn sở hữu nhà ở phải được ghi rõ trong Giấy chứng nhận.

Trường hợp cá nhân nước ngoài kết hôn với công dân Việt Nam hoặc kết hôn với người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì được sở hữu nhà ở ổn định, lâu dài và có các quyền của chủ sở hữu nhà ở như công dân Việt Nam;”

Như vậy, nếu quý khách là công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là người nước ngoài kết hôn với công dân Việt Nam hoặc kết hôn với người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì quý khách mua căn hộ chung cư sẽ được sở hữu ổn định, lâu dài. Còn nếu quý khách không thuộc một trong các trường hợp nêu trên, quý khách là người nước ngoài thì quý khách chỉ được sở hữu nhà ở trong thời hạn luật định là 50 năm và có thể gia hạn nhưng sẽ không được sở hữu lâu dài, vĩnh viễn.

Nhà ở xã hội được cấp sổ đỏ.

Theo quy định cũ, chủ dự án nhà ở xã hội phải xây dựng giá tạm tính khi bán nhà và giá quyết toán sau khi thực hiện dự án xong để làm sổ đỏ cho người mua nhà. Điều này dẫn đến việc dự án nhà ở xã hội đã vào ở nhiều năm, thậm chí đủ điều kiện được bán nhưng chủ đầu tư vẫn chưa quyết toán xong giá nhà nên người dân vẫn chưa được cấp sổ đỏ.

Gỡ rối cho vấn đề trên, Thông tư 19/2016 TT-BXD hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở và Nghị định 99 vừa được Bộ Xây dựng ban hành thì từ ngày 15/8, các chủ đầu tư nhà ở xã hội chỉ thực hiện xây dựng giá 1 lần, tức là xây dựng giá bán rồi trình Sở Xây dựng thẩm định, sau khi thẩm định xong chủ đầu tư sẽ công bố giá và đó là giá bán và sau này không phải quyết toán nữa.

Chủ đầu tư các dự án nhà ở xã hội từ ngày 15/8 sẽ chỉ phải xây dựng 1 giá bán mà không phải xây dựng giá tạm tính rồi quyết toán giá để làm sổ đỏ như quy định cũ, điều này sẽ giúp người mua nhà sớm được cấp sổ đỏ. Ảnh: Minh Thư

Ngoài ra, Thứ trưởng Bộ Xây dựng Đỗ Đức Duy cho biết, theo quy định cũ, người mua nhà phải thanh toán 100% giá trị hợp đồng thì chủ đầu tư mới tiến hành làm sổ đỏ, điều này đã dẫn đến thực tế nhiều chủ đầu tư chây ì không làm sổ đỏ cho dân vì tiền đã thu đủ rồi.

“Hiện nay có rất nhiều dự án đã đưa vào sử dụng nhiều năm nhưng người mua nhà không được làm sổ đỏ, chỉ ở được chứ không thể đem tài sản của mình ra giao dịch, thế chấp được. Cho nên, Luật đưa vào quy định phải giữ lại 5% để bảo đảm trách nhiệm chủ đầu tư với người mua nhà trong việc cấp sổ đỏ. Với quy định này thì tốc độ cấp sổ đỏ tại các dự án nhà ở đã tăng lên, nhanh hơn so với trước đây”, ông Duy cho hay.

Cũng theo lãnh đạo Bộ Xây dựng, với 5% còn lại có thể nộp vào một tài khoản tạm giữ ở ngân hàng để giữ thay cho chủ đầu tư và người mua nhà để đến khi nào hoàn tất cấp sổ đỏ sẽ chuyển trả cho chủ đầu tư. Đây là giải pháp phù hợp, Bộ Xây dựng sẽ nghiên cứu trong văn bản quy định nếu cần thiết điều chỉnh cho phù hợp sẽ rất ủng hộ quan điểm này.

Người mua nhà ở xã hội có được cấp sổ đỏ.

Nhà ở xã hội có được thế chấp?

Căn cứ theo quy định tại Khoản 4, Khoản 5 Điều 19 Nghị định 100/2015/NĐ-CP về phát triển và quản lý nhà ở xã hội, có quy định:

Người mua, thuê mua nhà ở xã hội không được phép thế chấp (trừ trường hợp thế chấp với ngân hàng để vay tiền mua, thuê mua chính căn hộ đó) và không được chuyển nhượng nhà ở dưới mọi hình thức trong thời gian tối thiểu là 05 năm, kể từ thời điểm trả hết tiền mua, thuê mua nhà ở theo hợp đồng đã ký với bên bán, bên cho thuê mua; chỉ được phép bán lại, thế chấp hoặc cho thuê sau khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

Kể từ thời điểm người mua, thuê mua nhà ở xã hội được phép bán nhà ở xã hội cho các đối tượng có nhu cầu thì ngoài các khoản phải nộp khi thực hiện bán nhà ở theo quy định của pháp luật, bên bán căn hộ nhà chung cư phải nộp cho Nhà nước 50% giá trị tiền sử dụng đất được phân bổ cho căn hộ đó; trường hợp bán nhà ở xã hội thấp tầng liền kề phải nộp 100% tiền sử dụng đất, tính theo giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành tại thời điểm bán nhà ở.

Trong thời hạn chưa đủ 05 năm, kể từ thời điểm trả hết tiền mua, thuê mua nhà ở xã hội, nếu bên mua hoặc thuê mua có nhu cầu bán lại nhà ở xã hội thì chỉ được bán lại cho Nhà nước (trong trường hợp thuê mua nhà ở xã hội do Nhà nước đầu tư) hoặc bán lại cho chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở xã hội (trong trường hợp mua, thuê mua nhà ở xã hội được đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn ngoài ngân sách) hoặc bán lại cho đối tượng được mua, thuê mua nhà ở xã hội theo quy định tại Điều 49 của Luật Nhà ở, với giá bán tối đa bằng giá bán nhà ở xã hội cùng loại tại cùng địa điểm, thời điểm bán và không phải nộp thuế thu nhập cá nhân. Như vậy, bạn không được phép thế chấp nhà ở xã hội (trừ trường hợp thế chấp với ngân hàng để vay tiền mua, thuê mua chính căn hộ đó).

Trọn bộ câu hỏi và câu trả lời về nhà ở xã hội!
5 (100%) 1 vote

Trả lời

Close Menu